Tìm hiểu thánh địa Bà La Môn

Tìm hiểu thánh địa Bà La Môn

Thánh địa cổ ở vùng Bur Go gần đây được gọi chung là quần thể di tích Cát Tiên (theo tên huyện mà nó tồn tại) này quả quá bí ẩn. Mọi thứ vẫn chưa vén lên hết, vì nhiều vết tích văn hóa về nó vẫn còn nằm đâu đó trong lòng đất, rải ra trên những đồi bát úp, trong thung lũng kia.

Về địa lý, nơi này là nơi tôi gắn bó một thời trai mơ tưởng với miền đất hư thực bởi chính sự tồn tại của nó, địa bàn huyện Cát Tiên, tỉnh cực nam Tây nguyên, Lâm Đồng.
Tôi viết về nó trong tâm thế như đang đối thoại với một thực thể câm.

Sắc tộc Mạ là cư dân lâu đời sống ở vùng này, họ gọi quê của mình là Bur Go. Tôi đã tiếp xúc 20 năm nay với họ. Nhưng họ không có ký ức gì chứng tỏ là chứng nhân hay hậu duệ của những kiến trình đã vùi dưới lòng đất đó.

Họ chỉ nói về những khu rừng vùi lấp những công trình kia là chỗ âm u, ma quái, thiêng, không đặt chân vào đó và cũng không nhắc gì đến những thành quách kiến trúc. Bậc thầy khám phá hầu hết các nền văn hóa, di sản kiến trúc cổ trên lãnh thổ Việt Nam là người Pháp một thời cũng không biết đến vùng này.

Nó nằm trong một không gian như một thung lũng lớn bên sông, tuy nhiên thung lũng ấy rải ra xung quanh với vô số những ngọn núi đất thấp đồi bát úp. Khí hậu ở đây nóng ẩm, vô cùng khắc nghiệt, như mọi thánh địa trên thế giới. Bản đồ không ảnh thời thuộc địa đã đánh dấu đây là vùng rừng rậm, “không xác định”, “không rõ”.

Mãi đến đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, chính quyền mới đưa dân đi “kinh tế mới” vào vùng này. Qua phá rừng phát hoang lấy đất, canh tác sản xuất, dân kinh tế mới đã làm hé lộ tản mác về những vật liệu kiến trúc trong rừng Cát Tiên.

Năm 1985, những thám sát khảo cổ học đầu tiên mới được gõ xuống vùng rừng này. Và một thánh địa cổ xưa đã phát lộ…

Sau bảy lần khai quật từ đó đến nay của các nhà khảo cổ học Việt Nam đã bước đầu nhận định đây là một thánh địa Bà La Môn giáo (Brahmanism). Bà La Môn là tôn giáo cổ xưa của nhân loại, có quê hương ở Ấn Độ, bên kia eo biển Malacca, thuộc Ấn Độ Dương và dưới chân dãy Hymalaya cao thiêng, ra đời trước xa Phật giáo, Hinduism, Công giáo, Hồi giáo.

Đi qua các vùng đất vành đai ven biển Đông Nam Á, tôn giáo này thờ quy luật sinh tồn của vũ trụ mà hiện thân là qua thần sáng tạo vũ trụ Brahma cùng thần hủy diệt Shiva, và thần bảo tồn Vishnu thông qua biểu tượng về bộ Linga và Yoni thuần khiết trong nghĩa “tam vị nhất thể”.

Sau bảy lần khai quật từ đó đến nay của các nhà khảo cổ học Việt Nam đã bước đầu nhận định đây là một thánh địa Bà La Môn giáo (Brahmanism).

Bà La Môn là tôn giáo cổ xưa của nhân loại, có quê hương ở Ấn Độ, bên kia eo biển Malacca, thuộc Ấn Độ Dương và dưới chân dãy Hymalaya cao thiêng, ra đời trước xa Phật giáo, Hinduism, Công giáo, Hồi giáo.

Đi qua các vùng đất vành đai ven biển Đông Nam Á, tôn giáo này thờ quy luật sinh tồn của vũ trụ mà hiện thân là qua thần sáng tạo vũ trụ Brahma cùng thần hủy diệt Shiva, và thần bảo tồn Vishnu thông qua biểu tượng về bộ Linga và Yoni thuần khiết trong nghĩa “tam vị nhất thể”.

Cùng với những diện mạo kiến trúc kia, đến lúc này các nhà khoa học cũng phát hiện đi cùng trong các lòng quần thể các phế tích đó, là các hiện vật liên quan đến Bà La Môn giáo, hoặc ít nhất ảnh hưởng của văn minh cổ đại Ấn Độ.

Bộ Linga – Yoni lớn nhất Đông Nam Á đang nằm ở đây, cao 2,1m, đường kính 0,66m, còn phần yoni có hình vuông với mỗi cạnh dài đến 2,26m.

Ngoài ra còn có những hình tượng điêu khắc riêng rời về thần Brahma, thần Vishnu, thần Shiva, thần Inda, thần Surya, thần Uma, cùng các vật cưỡi liên quan như bò thần Nandin, phúc thần mình người đầu voi Ganêsa, ngỗng Hamsa, khỉ Maman…

Cùng với hoa văn bông sen khắc trên gạch, những mảnh vàng mỏng, hình ảnh bánh xe luân hồi, quả cầu xuất hiện cũng nhiều. Và tín hiệu ít ỏi xuất hiện về văn tự là chữ Sanskrit, Brahmi.

Bất ngờ hơn, còn phát hiện những hiện vật mang dấu hiệu văn hóa vùng Ba Tư ở Tây Á – Địa Trung Hải và vùng Kusan (Trung Á) ở đây, mà chiếc hộp bạc khắc hình sư tử, vòng đồng có núm, cốc chân cao… là đại diện của điều đó.

Từ đấy nó cho thấy, chủ nhân của thánh địa cổ bí ẩn trên đất nước Việt Nam này ở vào một thời đại bang giao rộng, có quan hệ văn hóa, thương mại với nhiều nơi trên thế giới khi đó.

Và thông điệp của bang giao đó cho thấy ý nghĩa của dòng sông Da Dơng (sau này chúng ta gọi là Đồng Nai) nằm ngay sát bên thánh địa, và vai trò giao thông của dòng sông. Nơi đây là trung lưu, nhưng dòng sông kia chảy về Đồng Nai (nay), xuống Sài Gòn (nay) và gặp biển (ở Cần Giờ) – từ hàng giang đến hàng hải.

Giáo sư Trần Quốc Vượng lúc còn sống đoán định rằng quần thể kiến trúc ở thánh địa Cát Tiên là của người Mạ bản địa. Nhưng sở dĩ hậu duệ ngày nay của họ quên vì thời hoàng kim của cộng đồng họ lụi tàn đã quá xa. Nhìn trình độ phát triển của người Mạ ngày nay mấy ai tin họ đủ sức tạo nên những công trình kiến trúc rạng ngời của một thánh địa chứ.

Có người cho là nó thuộc một tiểu quốc nào đó của Champa. Có người bảo nó thuộc phiên quốc nào đó của vương quốc Phù Nam(Fou Nan) là một quốc gia biển lớn, cường thịnh ở vùng Đông Nam Á vào thế kỷ I – VII, và đã biến mất trong cổ sử.

Số khác lại cho nó thuộc “hậu Phù Nam” (post Phu Nam), nghĩa là hình thành trên sự dung thân của cộng đồng lưu vong thuộc quốc gia Phù Nam ngay trước đó khi nước này bị vương quốc Chân Lạp đánh bại mà dạt lên rừng núi, thừa kế tiếp nền văn hóa đó.

Còn giáo sư Lương Ninh thì cho nó là chính nó, không thuộc ai cả, đứng “riêng một góc trời”.

Bạn tôi, nhà khảo cổ học đặt những cú khai quật đầu tiên xuống vùng Bur Go này và thực hiện nhiều cuộc khai quật về sau, gắn bó nhất với nó, PGS.TS Bùi Chí Hoàng ở Trung tâm Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ lại khẳng định nó là thánh địa của một cộng đồng cũng nằm trong mạng lưới thương mại Đông – Tây vốn phát triển khá mạnh vào thế kỷ III – IV, và khung niên đại của nó có thể từ thế kỷ IV – VIII sau Công nguyên, và có thể nó có liên kết cộng sinh với cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở đây.

Nam (Fou Nan) là một quốc gia biển lớn, cường thịnh ở vùng Đông Nam Á vào thế kỷ I – VII, và đã biến mất trong cổ sử.

Số khác lại cho nó thuộc “hậu Phù Nam” (post Phu Nam), nghĩa là hình thành trên sự dung thân của cộng đồng lưu vong thuộc quốc gia Phù Nam ngay trước đó khi nước này bị vương quốc Chân Lạp đánh bại mà dạt lên rừng núi, thừa kế tiếp nền văn hóa đó.

Nhưng quần thể kiến trúc ở xứ Bur Go này dần đi vào suy thoái khi con đường thương mại Đông – Tây chuyển dịch từ vị trí từ Óc Eo (nơi là thành phố hải cảng của nhà nước Fou Nan cổ đại nằm ở Thoại Sơn, An Giang dưới vùng châu thổ Nam bộ ngày nay) tới vùng eo biển Malacca ở phía nam bán đảo Malay từ cuối thế kỷ thứ V về sau.

Càng nhiều giả thuyết, quần thể kiến trúc ở thánh địa cổ này càng huyền bí.

Nó lụi tàn về hình dáng kiến trúc, nhưng sự đồ sộ của nó đến lúc này đã thấy lớn hơn thánh địa Chăm ở Mỹ Sơn, Quảng Nam (Việt Nam), bí ẩn hơn đền Angkor của Khmer ở bên Campuchia. Tầm vóc nó là tầm của di sản văn hóa thế giới. Chưa nơi nào đủ tình yêu và tài lực để lập hồ sơ di sản cho nó.

Nó hiện hữu trên trần gian, nhưng trong tư thế của huyền thoại. Thì thôi, nó cứ tồn tại trong thinh lặng như thế có khi lại hay, để là chính mình, mà chẳng cần thách thức trí tuệ con người hiện đại về khả năng khám phá tàn tro quá khứ của nó làm gì.

Theo tcnhadep.com